Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

Làm lại từ đầu sau phá sản


Việc kinh doanh thất bại khiến Danny Fisher gánh khoản nợ hơn 15 triệu USD. Nhưng sau đó, nhờ phân tích kỹ sai lầm và tận dụng tốt truyền thông xã hội, công ty mới của anh đã nhanh chóng thành công.

5 năm trước, Danny Fisher là Chủ tịch kiêm CEO một trong những công ty phim truyện - truyền hình độc lập lớn nhất thế giới - City Lights Media. Đây là thành quả hơn 20 năm gây dựng của anh và anh trai - Jack. Năm 2008, họ đã có hơn 400 nhân viên, cấp vốn và phân phối rất nhiều bộ phim, đồng thời tự sản xuất 63 chương trình truyền hình. Trong đó có show truyền hình nấu ăn "Chopped" trên kênh Food Network.
Tuy nhiên, đến 2009, do tác động của khủng hoảng tài chính, rất nhiều doanh nghiệp Mỹ bị phá sản. City Lights Media cũng không phải ngoại lệ. Khi ấy, Danny chỉ còn 1.700 USD trong tài khoản, không có tiền tiết kiệm và còn gánh khoản nợ hơn 15 triệu USD.
Dù vậy, nộp đơn phá sản cũng khiến anh cảm thấy nhẹ nhõm, khi nhận ra mình vẫn còn cả cuộc đời và sự nghiệp ở phía trước. Anh bắt đầu tự hỏi: "Mình sẽ làm gì tiếp theo?".
Danny Fisher đã vực dậy thành công việc kinh doanh sau phá sản. Ảnh: CNN
Danny tin rằng truyền thông xã hội sẽ là chìa khóa cho nỗ lực vực dậy công ty của mình. Vì thế, anh lập tài khoản Facebook, kết bạn với tất cả những người tài giỏi mà mình biết, sau đó gửi tin nhắn cá nhân đến bạn bè của họ. Anh cũng lập blog, vẽ ra kế hoạch gây dựng lại cuộc đời và sự nghiệp của mình. Một thời gian sau, Danny đã xây dựng được mạng lưới bạn bè 5.000 người, chủ yếu là đồng nghiệp trong lĩnh vực của mình: nhà sản xuất phim, giám đốc hãng phim, hãng phân phối và nhà đầu tư.
Blog của anh cũng nhận được rất nhiều chia sẻ đồng cảnh ngộ của mọi người. Các CEO phố Wall than thở bị phá sản, các nhà sản xuất phim thì vô gia cư, một số người làm show truyền hình phải làm bồi bàn, còn giám đốc kênh truyền hình thì đang thất nghiệp. Nhờ đó, Danny nhận ra tuy phá sản, anh vẫn còn khỏe mạnh, có gia đình và bạn bè. Đó là một sự may mắn. Vì thế, anh quyết định mình phải thành công.
Sau đó, Danny lao đầu vào nghiên cứu ngành công nghiệp phim, tập trung vào mảng phân phối nội dung số. Anh cũng phân tích thất bại lúc trước của mình. Rằng nếu gặp tình huống tương tự sắp tới, mình sẽ làm thế nào và sai lầm nào mình có thể tránh được? Anh nhận ra chi phí hàng ngày của công ty quá cao, nợ lại nhiều và còn kinh doanh dàn trải. Vì thế, Danny cho rằng mình cần tập trung vào một thứ và phải làm cực kỳ tốt.
Sau đó, anh phác thảo mô hình kinh doanh cho việc phân phối nội dung số. Trong đó có quy trình mua phim, sử dụng truyền thông xã hội và marketing truyền miệng để quảng cáo cho phim phát hành.
Bước tiếp theo là tìm vốn. Một trong những người có hứng thú với kế hoạch của Danny là nhà sản xuất phim Alan Klingenstein. Alan tin rằng mô hình của Danny có thể hoạt động tốt và sẵn sàng thử nghiệm, đặc biệt là nếu có thể tìm được thêm nhà đầu tư để chia sẻ rủi ro. Và sau đó, họ tìm được một người đồng ý cho Danny 200.000 USD.
Có vốn, hai anh em Danny bắt đầu mua phim và phát hành chúng dưới dạng nội dung số và DVD. Họ quảng cáo trên các kênh truyền thông xã hội, đồng thời mở rộng mối quan hệ với các hãng sản xuất, hãng phân phối và bán lẻ.
Mô hình này đã hoạt động tốt. Danny thu hồi được vốn trong vòng 18 tháng và đưa lại cho hai nhà đầu tư. Ngày nay, công ty mới của anh - FilmRise đã phân phối được hơn 5.000 bộ phim, có hơn 30 nhà đầu tư và huy động được hơn 3 triệu USD vốn.
Jack Fisher hiện là Chủ tịch của công ty, còn Danny là CEO. Anh cho biết trên CNN: "Cứ đến đầu năm mới, tôi lại nghĩ rằng mình đang được cho cơ hội thứ hai. Và tôi rất biết ơn điều đó".

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

Walmart muốn mở siêu thị tại Việt Nam


Trong chuyến làm việc với Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư - Bùi Quang Vinh mới đây, ông Bill Foudy - Phó Chủ tịch Tập đoàn Walmart kỳ vọng sẽ thiết lập một hệ thống bán lẻ mới tại Việt Nam.

Ngoài việc nhập khẩu các hàng hóa của Việt Nam như quần áo, giày dép, đồ gia dụng, thực phẩm... để bày bán trong các siêu thị của Walmart, ông Foudy cho biết tập đoàn này cũng mong muốn phát triển hệ thống siêu thị tại Việt Nam. Trước đề xuất của lãnh đạo tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho biết sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất để Walmart hoạt động tại Việt Nam.

"Năm 2014, thị trường Việt Nam sẽ được mở rộng hơn trong đó có việc đàm phám TPP, kết thúc đàm phán FTA, liên minh thuế quan Nga, Belarus và Kazakhstan…, những mặt hàng xuất khẩu ở Việt Nam sẽ được hưởng nhiều ưu đãi, kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi trở lại", Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhận định.Tại buổi làm việc, ông Foudy cũng đánh giá với tiến triển của vòng đàm phán Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Walmart sẽ có rất nhiều cơ hội để hợp tác với Việt Nam.

Walmart hiện là nhà bán lẻ có giá trị thương hiệu lớn nhất toàn cầu (21,7 tỷ USD), theo xếp hạng của Forbes. Tập đoàn này có khoảng 11.000 cửa hàng ở 27 nước trên thế giới, với lượng nhân viên hơn 2,2 triệu người. Trong năm tài chính 2013, doanh số bán hàng của Walmart ước đạt 466 tỷ USD, nhỉnh hơn mức 443 tỷ USD của năm 2012.

Với dân số trẻ và đa số đang ở trong độ tuổi lao động thích tiêu dùng, Việt Nam trở thành một trong những thị trường hấp dẫn những nhà bán lẻ nhất trên thế giới. Bên cạnh những đại gia nước ngoài đã có mặt trên thị trường như BigC, Metro, Lotte, nhà bán lẻ lớn nhất Nhật Bản AEON Mall trong những ngày đầu năm 2014 đã khai trương trung tâm mua sắm đầu tiên tại TP HCM. Thời gian tới, thị trường có thể xuất hiện thêm những tên tuổi mới như Auchan của Pháp, Walmart của Mỹ.

CEO càng hấp dẫn, doanh nghiệp càng thành công


Theo nghiên cứu của hai nhà kinh tế học tại Mỹ, CEO có gương mặt ưa nhìn sẽ có ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu và giúp công ty có lợi thế lớn hơn sau các thương vụ mua bán – sáp nhập.
Joseph Halford và Hung-Chia Hsu – hai nhà kinh tế học tại Đại học Wisconsin (Mỹ) vừa ra báo cáo “Sắc đẹp là tiền bạc: Ngoại hình CEO và lợi ích của cổ đông”. Trong đó, qua đánh giá độ hấp dẫn về khuôn mặt của 677 CEO các công ty trong S&P 500, họ chỉ ra có mối quan hệ thuận chiều giữa ngoại hình CEO và lợi nhuận của doanh nghiệp.Halford và Hsu kết luận: “Chúng tôi phát hiện ra CEO có gương mặt đẹp sẽ ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu. Việc này cho thấy các cổ đông quan niệm CEO càng hấp dẫn thì càng có giá trị”.

Hai nhà nghiên cứu đã lấy ví dụ CEO kiêm Chủ tịch Yahoo – Marissa Mayer: “Mayer được 8,45 trên 10 điểm ngoại hình và thuộc top 5% trong danh sách của chúng tôi. Yahoo cũng hoạt động rất tốt kể từ khi cô ấy lên làm CEO (với mức tăng 158%). Dĩ nhiên, chúng tôi không có ý toàn bộ thành tích đó là nhờ ngoại hình của Mayer. Chúng tôi chỉ tìm ra rằng hai việc này có thể có mối liên hệ nào đó”.

Ngoài ra, hai ông còn rà soát và phân tích 1.830 thương vụ mua bán – sáp nhập trong thời gian 1985 – 2012. Họ phát hiện ra rằng: “Các CEO ngoại hình tốt hơn sẽ giúp công ty có nhiều lợi ích hơn sau M&A. Kết luận này phù hợp với giả thuyết CEO hấp dẫn sẽ cải thiện được lợi ích của cổ đông, nhờ khả năng đàm phán vượt trội”. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra CEO càng xuất hiện nhiều trên TV thì cổ phiếu càng tăng mạnh.

Halford và Hsu cho biết: “Kết quả của chúng tôi không nhằm mục đích khuyên các công ty tuyển CEO dựa vào ngoại hình, mà không cân nhắc những năng lực khác. Tuy nhiên, các công ty thường xuyên phải đàm phán thì nên quan tâm nhiều hơn đến ngoại hình của CEO”.

Đây không phải lần đầu tiên vấn đề ngoại hình và kinh doanh được đem ra bàn luận. Năm 2010, John Graham, R.Campbell và Manju Puri tại Đại học Duke đã tìm ra ngoại hình tốt giúp các CEO có hình ảnh xuất sắc hơn, kỹ năng đàm phán tốt hơn. Vì thế, họ sẽ mang lại các thương vụ có lợi hơn cho cổ đông.

Nhận xét về nghiên cứu của Halford and Hsu, ông Robert Williams – Giám đốc hãng tuyển dụngAsia Media Search cho biết ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng. “Ngoại hình chỉn chu, chững chạc sẽ giúp đối tác cảm nhận được sự tin cậy. Tôi thắc mắc không biết trong thế giới truyền thông ngày nay, liệu Abraham Lincoln với khuôn mặt nhiều vết tích, người gầy lêu nghêu và giọng tông cao như thế có đắc cử Tổng thống hay không nữa. Là nhà tuyển dụng, tôi cảm thấy nên tập trung vào năng lực và thành tựu, thay vì nụ cười của người ta. Nhưng bản chất con người là để ý những cái đó mà”, ông nhận xét trên CNBC.

Hà Thu | Theo VNExpress

Dự báo thị trường TMĐT Việt Nam 2014 – 2015


Monedaily.vn – Cuối năm, nhiều bạn gặp mình đều hỏi “E-commerce năm 2014 và 2015 tại VN sẽ thế nào? Có cơ hội gì ngon ăn không?”
Nói thật là mình mà biết rõ chắc chắn nó sẽ thế nào thì đã giàu to
Cơ mà mình có thể nhận định sơ bộ dựa trên các động thái và diễn biến mà mình được biết như thế này:

1. Về thị trường

Nửa cuối năm 2013, có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài từ lớn đến bé, từ các quỹ đầu tư mạo hiểm (Ventures Capital) đến các đại gia TMĐT (họ là các tập đoàn về TMĐT đang hoạt động thành công và có thị phần lớn trên thế giới) vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư, họ đặc biệt để ý đến thị trường TMĐT tại Việt Nam. Có một số nhà đầu tư đã và đang tiếp xúc, đàm phán với các công ty internet tại VN.
Thông thường, để chốt một thương vụ đầu tư thì mất khoảng 6 tháng đến 2 năm. Như vậy, khoảng cuối năm 2014 và trong năm 2015 sẽ có nhiều thương vụ được chốt, các công ty internet tại VN sẽ có một lượng vốn lớn để đánh mạnh, mở rộng và làm nóng thị trường.
Mặt khác, các đại gia bán lẻ, các siêu thị điện máy, siêu thị về đồ tiêu dùng nhanh (FMCG) tại VN trước giờ chỉ tập trung mạnh vào offline thì trong năm 2013 cũng đã âm thầm chuẩn bị lực lượng, tài nguyên, phương án để mở rộng và đẩy mạnh kênh online, đặt chỉ tiêu bán hàng online chiếm 5-10% tổng doanh số trong năm 2014 và 2015.
Trên tờ Forbes Việt Nam số 8 có bài viết về tỷ phú số 1 Trung Quốc đại lục là Vương Kiện Lâm (tài sản 14,1 tỷ đô), ông chuyên đầu tư vào bất động sản, du lịch, điện ảnh và bán lẻ. Ông đã cược với Mã Vân (tỷ phú, nhà sáng lập tập đoàn Alibaba) rằng nếu trong 19 năm, bán lẻ trực tuyến chiếm hơn 50% tổng doanh thu bán lẻ tại Trung Quốc, ông sẽ trả cho Mã Vân 100 triệu NDT, ngược lại Mã Vân sẽ trả cho ông 100 triệu NDT. Có lẽ họ Vương đã nhìn thấy nguy cơ mô hình kinh doanh lấy bán lẻ làm trung tâm sẽ không bền nên cần phải có lối đi khác. Có thể nói bán lẻ trực tuyến sẽ là cú sốc lớn cho ngành bán lẻ.

2. Cơ hội là gì?

Mình vẫn giữ quan điểm trước đến giờ là nếu không có nhiều tiền thì đừng dại mà nhắm vào thị trường mass (đại chúng), hãy chọn thị trường niche (ngách) để đi nếu muốn startup hay mở rộng sang TMĐT, bởi lẽ đây là ngành đang còn mới, tốn rất nhiều chi phí cho vận hành, marketing, educate thị trường và hàng tồn kho.
Như đã nói ở trên, chắc chắn thị trường TMĐT sẽ nóng lên, lúc đó sẽ có rất nhiều cơ hội mang lại cho chúng ta kiếm tiền. Chúng ta không cần phải trực tiếp lao vào làm các mô hình TMĐT mà có thể làm các dịch vụ hỗ trợ cho thị trường này, các dịch vụ đó trên thế giới gọi là Cloud Services hay cụ thể hơn là Business Process as a Service (BPaaS).
Những nhà kinh doanh TMĐT sẽ rất cần các công cụ như SMS/Email/Social marketing để triển khai và tối ưu hoá các chiến dịch marketing của họ. Hay như các công cụ chuyên “lắng nghe”, phân tích và đo lường việc được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông, diễn đàn và mạng xã hội, nhằm seeding, viral hay xử lý khủng hoảng truyền thông.
Vai trò của logistic rất quan trọng trong TMĐT, chúng ta có thể cung cấp các dịch vụ liên quan đến logistic như giao vận, thanh toán, CSKH hay các dịch vụ hậu mãi…
Có rất nhiều thứ có thể làm thành công, quan trọng là chúng ta phải xác định được ngành hẹp mà chúng ta có thế mạnh, đảm bảo phải trở thành số 1 trong ngành hẹp đó. Hay nói cách khác, làm về dịch vụ gì cũng được, miễn chúng ta phải biết chỗ ngứa của thị trường là chỗ nào và gãi trúng, gãi đúng, gãi thật mạnh ắt hẳn sẽ ngon ăn.

Siêu thị AEON Việt Nam muốn bành trướng châu Á


Ngoài mục tiêu đến 2020 có 20 trung tâm mua sắm tại Viêt Nam, đại gia bán lẻ Nhật Bản còn theo đuổi chiến lược mở rộng đầu tư ở Trung Quốc, Lào và Myanmar.
Ngày 11/1, Công ty TNHH AEON Việt Nam (AEON Việt Nam) khai trương trung tâm mua sắm đầu tiên AEON MALL Tân Phú Celadon với quy mô lớn nhất tại TP HCM. Đây cũng là mô hình đánh dấu sự gia tăng thị phần mạnh mẽ ở châu Á của Tập đoàn AEON.
Ông Motoya Akada, Chủ tịch Tập đoàn AEON, cho biết với sức hút của thị trường Việt Nam, tháng 10 tới sẽ tiếp tục mở thêm trung tâm mua sắm ở Bình Dương và ở Hà Nội vào 2015. Dự kiến đến 2020 tập đoàn sẽ có khoảng 20 trung tâm mua sắm tại Việt Nam. Ngoài ra, trong chiến lược bành trướng châu Á, Malaysia, Lào và Trung Quốc sẽ là những quốc gia  nằm trong chiến lược mở rộng của tập đoàn.
“Trong chiến lược toàn cầu của mình chúng tôi chủ trương tạo thành 3 kết nối là Nhật Bản-ASEAN-Trung Quốc. Chúng tôi cũng đang có kế hoạch mở rộng ở Myanmar và Lào nhưng chưa thể công bố cụ thể. Về lượng vốn đầu tư cho khu vực châu Á cũng tôi sẽ tự huy động”, Chủ tịch tập đoàn AEON chia sẻ.
IMG-3189-JPG-2400-1389442133.jpg
Ông Motoya Akada, Chủ tịch tập đoàn AEON. Ảnh: Thi Hà
Công ty TNHH AEON Việt Nam có mặt ở Viêt Nam từ năm 2011 nhưng đến 2014 AEON mới có trung tâm mua sắm đầu tiên, theo ông Motoya Akada nguyên nhân là trước đó tập đoàn chưa đánh giá được nhiều tiềm năng ở thị trường Việt Nam. Sau thời gian nghiên cứu và tìm hiểu tập đoàn nhận thấy nhu cầu mua sắm kết hợp vui chơi giải trí ở các khu vực vùng ven của Việt Nam chưa được đáp ứng, trong khi đó, dân cư ở tràn ra vùng ven ở TP HCM ngày càng nhiều nên đã quyết đinh chọn địa điểm xa trung tâm để thu hút phân khúc khách hàng này. Mặt khác, đây cũng là thời điểm mà 2 nước Việt Nam và Nhật Bản có mối quan hệ tốt.
AEON Mall Tân Phú Celadon có tổng vốn đầu tư hơn 134 triệu USD gồm một tầng trệt và một tầng hầm, diện tích mặt bằng bán lẻ khoảng 50.000m2. Khu kinh doanh tự chọn có diện tích 16.000m2 cung cấp hơn 12.000 mặt hàng thiết yếu hằng ngày như thực phẩm tươi sống, thực phẩm công nghệ, thời trang, vật dụng gia đình.
Tại trung tâm mua sắm này, hàng Việt Nam chiếm tỉ lệ 80%, hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng nhãn riêng của AEON được nhập trực tiếp từ Nhật Bản. Riêng quầy thực phẩm có khoảng 600 mặt hàng được nhập khẩu từ nhiều nước.
Theo thống kê của AEON Việt Nam, trong 10 ngày đầu mở cửa trung tâm mua sắm bình quân một ngày có 30.000 khách đến tham quan và mua hàng tại trung tâm. Riêng thứ 7 và chủ nhật lượng khách có thể lên đến 70.000 người.
"Với tình hình mua sắm trên, chúng tôi hy vọng khả năng hoàn vốn sẽ trước 10 năm", Chủ tịch tập đoàn nói.